• Phật sự: 0902 427 222 - Phone USA: +14092179287 (Thầy Thích Nhuận Tâm)
  • Giáo vụ: 0906.721.705
  • Trụ trì: Đại đức Thích Nhuận Tâm

 

Chùa Lá Gò Vấp

KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ VESAK KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI

  • PDF.

KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ VESAK KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI 
By Carol Kuruvilla Tịnh Thủy chuyển ngữ

duc phat dan sanhPhật tử ở khắp nơi trên thế giới đang tôn vinh ngày đản sanh, thành đạo, và nhập niết bàn của Đức Phật với một lễ hội đầy màu sắc rực rỡ gọi là Đại lễ Vesak.

Ngày Vesak (còn gọi là Waisak, Wesak), là một trong những ngày quan trọng nhất của lịch sử Phật giáo. Người ta tin rằng đó là ngày trăng tròn vào năm 567 TCN, ngày mà thái tử Tất Đạt Đa Gautama sinh ra ở Nepal.

Hoàng tử sống trọng giầu sang và sang trọng bên trong hoàng cung của phụ hoàng cho đến khi thái tử 20 tuổi, khi người mạo hiểm ra ngoài cửa thành hoàng cung và đối mặt với thực tế đau khổ trên thế giới. Hoàng tử, tràn ngập nỗi khổ đau sau khi chứng kiến những cảnh đói nghèo, bệnh tật, và tử vong, nên ngài đã quyết định rời bỏ cung vàng điện ngọc, cuộc sống sang trọng và trở thành một nhà tu khổ hạnh.

Không hài lòng với sự hướng dẫn của các vị thầy tôn giáo khác nhau mà thái tử gặp trên đường đi, thái tử quyết định ngồi dưới gốc cây Bồ đề cho đến khi khám phá được sự thật về khổ đau. Ngài ngồi đó nhiều ngày, đối mặt với nhiều thử thách và chìm sâu vào thiền địnhcho đến khi ngài thấu hiểu được câu trả lời - vào thời điểm đó, ngài hoát nhiên đại ngộ trở thành Phật, hay là bậc giác ngộ.

Trong suốt cuộc đời còn lại của mình, Đức Phật đã tìm cách dẫn dắt những người khác đến con đườnggiác ngộ mà Ngài đã kinh qua. Ngài nhập niết bàn (tịch diệt hay nhập diệt) một cách êm đềm ở tuổi 80.

Vesak kỷ niệm cả ba sự kiện trọng đại này trong cuộc đời Đức Phật – ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập niết bàn của Ngài. Kinh điển Phật giáo khẳng định cả ba sự kiện đều đều xảy ra vào ngày trăng tròn của tháng âm lịch Ấn Độ, Vesakha.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm 7 phần trăm tổng dân số thế giới. Phần lớn các Phật tử(gần 99 phần trăm) sống ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Liên Hợp Quốc đánh dấu Ngày Vesak chính thức vào ngày 10 tháng 5 mỗi năm, nhưng lễ hội, và ngày chính xác của Vesak, khác nhau rất nhiều theo văn hoá và khu vực. Tại nhiều vùng, các buổi lễ được tổ chức quanh các đền chùa Phật giáo, nơi mọi người tập trung để thiền định và thả lồng đèn.

Tại Indonesia, hàng chục nhà sư và khách hành hương tập trung tại Đền Borobodur ở Java từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 11 tháng năm. Họ sẽ thắp nến, tụng kinh và đi quanh ba lần ngôi đền cổ, rồi thả 1000 chiếc đèn lồng lên trời tượng trưng cho sự giác ngộ toàn bộ vũ trụ.

Tại Hàn Quốc, người ta tổ chức lễ hội Hoa Lan đèn lồng dài hàng tháng, bao gồm các cuộc diễu hành, biểu diễn và hàng ngàn ngọn đèn lồng rực rỡ đầy màu sắc. Nhiều tín đồ Phật giáo sẽ tụ họp để chào mừng tại chùa Jogyesa ở Hán Thành (Seoul), trung tâm Phật giáo Hàn Quốc.

Tại Ấn Độ, những người hành hương đổ xô đến Vườn Lộc Uyển ở Sarnath, một thành phố tọa lạc tại bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, nơi Đức Phật được cho là đã có bài thuyết pháp công khai đầu tiên của mình sau khi Ngài thành đạo. Ở đây, những người mộ đạo mặc áo trắng, thiền định, và để lại lễ vậtmừng Vesak.

Lễ kỷ niệm Vesak cũng diễn ra ở đảo quốc Tích Lan Sri Lanka, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia và một số nước châu Á khác.

HÀNH HƯƠNG VỀ THẤT SƠN CHÂU ĐỐC - AN GIANG

  • PDF.

Nhân dịp đầu năm Kỷ Hợi - 2019, Thầy trụ trì Chùa Lá Gò Vấp Thích Nhuận Tâm đã tổ chức chuyến hành hương về Thất Sơn - Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang từ ngày 22.02 (18 tháng Giêng AL) đến ngày 24.02 (20 tháng Giêng AL). Ngoài thầy Thích Nhuận Tâm, trên chuyến xe hành hương có 42 Phật tử và thiện nam tín nữ cùng thành tâm hướng về đất Phật. Đoàn khởi hành từ Chùa lá lúc 20g đến chùa Bồ Đề Đạo Tràng tọa lạc ở trung tâm thành phố Châu Đốc, thuộc phường Châu Phú A, tỉnh An Giang vào lúc 05g ngày 23.02.2019. 

Chùa Bồ Đề Đạo Tràng được lập năm 1952 do ông Đặng Văn Lý (Tỉnh trưởng Châu Đốc lúc bấy giờ) và ông Phạm Ngọc Đa (Hội trưởng Thông Thiên học) đề xướng, được đông đảo Phật tử nhiều nơi tán thành và cúng dường Tam Bảo. Năm 1951, ông Phạm Ngọc Đa liên lạc với Đại Đức Jinara Jadasa bên Ấn Độ xin chiết cành từ cây bồ đề bảo thụ mà xưa kia Phật Thích Ca đã ngồi thiền định đem về trồng, đến nay cành lá đã sum suê phủ bóng mát trước Phật đài.

Xá lợi Phật tại chùa Bồ Đề Đạo Tràng

Cây Bồ Đề trước Chánh Điện

 

 

                                                                            Thầy Thích Nhuận Tâm cùng các đạo hữu và Phật tử tại chùa Bồ Đề Đạo Tràng


Các Ni sư và đạo hữu chùa Bồ Đề Đạo Tràng đã phát tâm Bồ Đề cúng dường, góp một phần công quả để Đại Đức Thích Nhuận Tâm thêm kinh phí xây dựng ngôi chùa Lá từ những ngày khởi đầu trên mảnh đất hoang hóa bên bờ kênh Tham Lương, quý thay tấm lòng của những đệ tử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng một lòng phụng sự chánh pháp.  

Sau khi lễ Phật, đoàn tiếp tục hành trình đến núi Sam lễ chùa Tây An và bà Chúa Xứ. Đền Bà Chúa Xứ trước đây thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, An Giang. Thờ cúng bà Chúa Xứ là tín ngưỡng thờ Mẫu của dân tộc ta. Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng "cô đồng", nên người dân đã lập miếu để tôn thờ. Cũng có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Vĩnh Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại. Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương. Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son (sa thạch), có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ thứ 6, Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng cho rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó "Bà Chúa Xứ" là vị thần có quyền thế lớn ở Châu Đốc, 

Rời TP.Châu Đốc đoàn hành hương đến viếng Miễu bà Chúa Xứ Bàu Mướp. Miễu do Phật Thầy Tây An tạo lập vào năm 1851. Tiếp tục hành trình lên núi Cấm - Tịnh Biên. Nhờ sự quảng giao của Đại Đức Thích Nhuận Tâm, đoàn hành hương được vào thăm tượng Phật Di lặc.Tượng Phật Di Lặc lớn nhất châu Á được đặt trên đỉnh Thiên Cấm Sơn là ngọn núi cao và hùng vĩ nhất của vùng Thất Sơn huyền bí. Tượng Phật Di Lặc tọa lạc uy nghiêm, thanh thoát nhưng rất gần gũi giữa không gian núi rừng. Tượng Phật Di Lặc có chiều cao từ dưới chân đế đến đỉnh đầu tượng là 33,6 m, diện tích bệ tượng 27m×27 m. Tổng trọng lượng cả nền và vỏ tượng gần 1.700 tấn bê tông cốt thép. Tượng được đặt trên núi Thiên Cấm Sơn, cao 710 m so với mặt nước biển. Bức tượng đặc tả rõ nét nụ cười an nhiên, từ bi, hỉ xả và bụng to đặc trưng của Phật Di Lặc. Đứng ở vị trí nào trên núi Cấm cũng đều thấy được tượng Phật Di Lặc màu trắng sáng, ngồi uy nghiêm giữa không gian xanh ngát với nụ cười hiền hậu. Bức tượng do nhà điêu khắc Thụy Lam (tên thật Phạm Dân Chủ, 69 tuổi, ngụ thị xã Tân Châu) – người phác thảo bản vẽ và giám sát xây dựng, công trình nghệ thuật đồ sộ này cũng được xác lập kỷ lục là tượng Phật ngồi lớn nhất Việt Nam.

 

Khoảng 10g ngày 24.02.2019, đoàn hành hương giả từ Núi Cấm về lại Chùa Lá trong niềm hoan lạc và bình an, Sự linh thiêng của vùng Thất Sơn đã gieo vào lòng thiện nam tín nữ cũng như Phật tử niềm tin Nhân Quả và Chân Thiện Mỹ từ ánh sáng từ bi nhiệm mầu của Đức Thế Tôn để giữ tròn đạo hạnh.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật.

Phật tử ĐỨC BẢO 

 

 

 

 

LỄ HỘI HOA ĐĂNG MỪNG QUỐC THÁI DÂN AN XUÂN KỶ HỢI 2019

  • PDF.

Thầy Thích Nhuận Tâm cùng anh em Hội Đá cảnh - Đá phong thủy Đăk Nông, Đăk Mil họp mặt tại gian trưng bày sản phẩm Đá cảnh - Đá phong thủy chào mừng Lễ hội Hoa đăng mừng Quốc Thái - Dân An Xuân Kỷ Hợi 2019.

 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI KỶ HỢI - 2019

  • PDF.

CHÙA LÁ GÒ VẤP

KÍNH CHÚC CHƯ TÔN THIỀN ĐỨC

QUÝ PHẬT TỬ - QUÝ VĂN NGHỆ SĨ - QUÝ DOANH NGHIỆP

NĂM MỚI AN KHANG & THỊNH VƯỢNG

 

TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG Thượng THIỆN Hạ NHƠN - Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Định

  • PDF.

TIỂU SỬ

TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG

Thượng THIỆN Hạ NHƠN

Trưởng Ban Trị sự GHPGVN

 tỉnh Bình Định

                  1. THÂN THẾ:

Hòa thượng Thích Thiện Nhơn thế danh Hồ Thanh Tùng, sinh năm Tân Mùi (1931) tại thôn Tân Hòa, xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Thân phụ là Cụ ông Hồ Ngộ, Pháp danh Như Đạo và Thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Sáu, Pháp danh Diệu Tùng, trong gia đình có sáu người con, Ngài là người con thứ ba. Gia đình Ngài có nhiều đời truyền thống thâm tín Tam Bảo. Hai vị bào đệ và bào muội từng xuất gia và thành tựu đạo nghiệp rất đáng kể, đó là Thầy Bửu Thanh và Ni sư Quảng Trí.

2. XUẤT GIA HỌC ĐẠO:

Từ nhỏ, Ngài đã sớm có duyên lành với đạo Phật, Ngài thường xuyên theo cha mẹ đến chùa lạy Phật. Với bẩm chất thông minh, Ngài đã sớm đậu bằng Primaire.

Chủng tử Phật pháp trong Ngài sớm nảy nở nên năm 12 tuổi (1942), học đạo với thiền sư Tâm Minh là Tổ khai sơn chùa Thiên Sanh (thường gọi là chùa Hang) ở Phù Mỹ. Sau đó, theo học với Ngài Quảng Đức tại chùa Tịnh An - Phù Cát.

Năm 1944, cơ duyên phùng ngộ Hòa thượng Thích Giác Tánh, là bậc Pháp sư lừng lẫy khắp miền Trung, uyên thâm kinh điển Đại Thừa, kế thừa Tổ Tâm Tịnh-Huệ Chiếu, trụ trì chùa Hưng Long – An Nhơn. Vì cảm phục đạo phong của Hòa thượng Giác Tánh, Ngài cùng với Hòa thượng Thiện Duyên đầu sư xuất gia, được phú Pháp danh là Quảng Phước.

Năm 1950, Ngài được Bổn sư và Hòa thượng Trí Nghiêm truyền trao giới pháp Sa Di tại chùa Hưng Long – An Nhơn, được ban Pháp tự là Thiện Nhơn

                  3. HÀNH ĐẠO:

Từ năm 1948 - 1954, Ngài làm Thư ký Phật giáo Cứu Quốc Liên khu 5.

Năm 1954, sau khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, dưới sự khuyến khích của Hòa thượng Bổn sư, Ngài cùng đoàn Học Tăng từ Phật Học Đường Hưng Long, Bình Định, 12 vị, gồm quý Hòa thượng: Thích Đồng Thiện, Thích Thiện Duyên, Thích Đổng Minh, Thích Đổng Quán, Thích Tâm Hiện, Thích Đồng Từ, Thích Nguyên Trạch, Thích Từ Hạnh, Thích Liễu Không, Thích Tâm Lâm, Thích Đổng Tánh… đi

 

bộ vào Khánh Hòa để cầu tòng học chuyên khoa Kinh, Luật, Luận tại Tăng Học Đường Nam Phần Trung Việt-Nha Trang (tiền thân của Phật Học Viện Trung phần-Nha Trang), do Hòa thượng Thích Huyền Quang làm giám đốc.

Năm 1957, cùng rất đông Pháp lữ đồng môn, Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho phép đăng đàn thọ giới Cụ túc tại Đại giới đàn Hộ Quốc ở Nha Trang, do Trưởng Lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Đường đầu, được Bổn sư ban Pháp hiệu là Quán Hạnh.

Năm 1958, Ngài tốt nghiệp chương trình Cao Đẳng Phật học từ Phật Học Đường Trung phần, được Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam bổ nhiệm làm Giảng sư, giáo hóa khắp các tỉnh miền Trung từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận và các tỉnh Cao Nguyên. Cũng trong giai đoạn này, Ngài được mời kiêm nhiệm Chánh Hội Trưởng Hội Phật học Quảng Ngãi trong 2 năm.

Năm 1964-1975, GHPGVNTN thỉnh cử Ngài làm Chánh Đại Diện Giáo hội tỉnh GiaLai – KonTum. Trong giai đoạn này, Ngài cũng thành lập và làm Giám đốc các trường Bồ Đề tại Pleiku.

Năm 1966-1967, Ngài gia nhập Nha Tuyên úy Phật giáo, và được bổ nhiệm làm Chánh Sở Tuyên Úy Phật Giáo QĐVNCH Vùng II Chiến Thuật, bao gồm các quân, binh chủng ở Cao Nguyên và Duyên hải Trung phần để hỗ trợ và hướng dẫn tâm linh cho quân nhân Phật tử và siêu độ cho binh sĩ tử trận.

Trong những năm 1964-1975, tuy rất bận rộn với bao công tác hoằng pháp và trọng trách hành chánh điều hành nhiều cấp GH, nhưng Ngài cũng thực thi tâm huyết phổ độ quần sanh, nên đã khai sơn, tạo dựng và đại trùng tu rất nhiều cơ sở tầm vóc cho Đạo pháp, như chùa Hồng Từ (Kontum), chùa Đạo Quang (Sài-gòn), chùa Pháp Hải (Quy Nhơn), chùa Hoa Nghiêm (Phù Cát), v.v.. 

Năm 1982, sau 6 năm chịu an trí, lao động, Ngài trở về phụ tá Hòa thượng Bổn sư Giác Tánh trong trách nhiệm dạy dỗ Kinh Luật cho Tăng chúng và quản trị mọi Phật sự tại Tổ đình Thiên Đức.

Năm 1987, sau khi Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài đã tiếp nhận Tổ nghiệp trong trọng trách “Truyền Đăng Tục Diệm”, nhậm chức trú trì để làm quang huy rạng rỡ ngôi Tổ đình Thiên Đức, do Ngài Minh Giác Kỳ Phương, Tỵ Tổ của Tổ đình Thập Tháp đến Háo Lễ khai sơn từ đầu thế kỷ 18. 

Bên cạnh đó, với đại hạnh đồng sự, cộng hành để chung tay xiển dương cơ đồ Đạo pháp đang cơn trầm nịch suốt thế kỷ qua, từ 1982 đến ngày viên tịch, hơn 30 năm, Ngài luôn luôn làm gương, cổ võ, dấn thân cùng chư tôn Giáo phẩm,

chư Tôn đức trong bản tỉnh thực hiện hàng trăm Phật sự chung cho tỉnh nhà, như: Tăng sự, giáo dục, đào tạo Tăng tài, hướng dẫn Phật tử…và thường xuyên đáp ứng thỉnh cầu mọi Phật sự, Pháp sự, Tăng sự từ khắp nơi trên toàn quốc, không bao giờ nề hà lao nhọc, cả đến khi tuổi đã quá cao, sức khỏe đã suy mòn.

Mặc dù Phật sự Giáo hội đa đoan nhưng Ngài vẫn luôn luôn ấp ủ hoài bão đại trùng tu ngôi Phạm vũ Thiên Đức, vì sau thời gian chiến tranh ngôi bảo tự đã sụp nát hoàn toàn năm 1965, chỉ được Hòa Thượng Tôn Sư tái thiết lại một phần vào những năm 1973-1976.

Tháng 5 năm Kỷ Mão (1999), Ngài cùng môn phái quyết định khởi công đại trùng tu ngôi bảo tự Thiên Đức. Sau thời gian tái thiết gần 10 năm, công trình đại trùng tu đã hoàn thành. Vào ngày 06 tháng 9 năm 2007, Ngài tổ chức Đại lễ Khánh thành ngôi Phạm vũ Tổ đình Thiên Đức, hàng chục ngàn Tăng Ni, Phật tử toàn quốc về tham dự. 

Ngoài sự thành tựu của ngôi Phạm vũ, Ngài vẫn thường xuyên lưu tâm đến việc đào tạo Tăng tài, tiếp Tăng độ chúng. Tổ đình Thiên Đức, dưới sự lãnh đạo và dìu dắt của Ngài, đệ tử xuất gia trước sau cả 100 vị, làm chỗ quy ngưỡng tâm linh cho Thập phương, phát huy tầm ảnh

hưởng của Phật giáo lên mọi tầng lớp xã hội, góp phần duy trì nền văn hóa và đời sống tâm linh truyền thống của Dân tộc mà ngàn năm tiền

nhân đã vun đắp nuôi dưỡng.

* Phật sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN):

Năm 1991, Ngài cùng chư Tôn đức trong bản tỉnh đứng ra tích cực vận động thành lập Trường Cơ Bản Phật Học tại tu viện Nguyên Thiều, đến nay được 6 Khoá, đã và đang đào tạo trên một nghìn Tăng Ni trẻ toàn quốc về đây tham học. Đặc biệt, do Ban Trị Sự khéo léo vận động bảo trợ từ trong và ngoài nước, nên Trường TCPH Nguyên Thiều là một trong rất ít các cơ sở đào tạo Tăng Ni có điều kiện thuận duyên tu học, quy củ rất nghiêm minh.

Nhiệm kỳ 1992-1997, Ngài làm Trưởng ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh Bình Định, kiêm Chánh đại diện Phật giáo huyện Tuy Phước.

Nhiệm kỳ 1997-2002, Ngài được suy cử vào Ủy viên HĐTS/ GHPGVN, Phó ban Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự GHPGVN tỉnh Bình Định, kiêm Chánh đại diện Phật giáo huyện Tuy Phước.

Năm 2002, Ngài được bầu làm Ủy viên UBMTTQVN tỉnh Bình Định.

Nhiệm kỳ 2002-2007, Ngài được suy cử vào thành viên HĐCM, ủy viên HĐTS/GHPGVN, Trưởng Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Bình Định.

Nhiệm kỳ 2007-2012, Ngài tiếp tục được suy cử vào thành viên HĐCM, ủy viên HĐTS/GHPGVN, Trưởng Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Bình Định.

Nhiệm kỳ 2012-2017, Ngài được suy cử vào Ủy viên Thường trực HĐCM, Ủy viên HĐTS/GHPGVN, Trưởng Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Bình Định.

* Chức sự trong các giới đàn:

Năm 1994, Ngài làm Giáo thọ A-xà-lê Đại giới đàn Phước Huệ, do Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Bình Định tổ chức tại Tổ đình Long Khánh, thành phố Quy Nhơn.

Năm 2000, Ngài làm Trưởng Ban Kiến Đàn và làm Yết-ma A-xà-lê tại Đại giới đàn Chánh Nhơn, do Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Bình Định tổ chức tại Tổ đình Long Khánh, thành phố Quy Nhơn.

Năm 2000, Ngài làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn Liễu Quán II, do Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Phú Yên tổ chức. 

Năm 2003, Ngài làm Yết-ma A-xà-lê tại giới đàn Ananda-Giác Tánh tại Tu viện Vạn Hạnh, Úc.

Năm 2004, Ngài làm Trưởng Ban Kiến Đàn và Yết-ma A-xà-lê Đại giới đàn Huệ Chiếu do Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Bình Định tổ chức tại Tổ đình Long Khánh, thành phố Quy Nhơn.

Năm 2004, Ngài làm Yết ma A-xà-lê tại giới đàn Lâm Tế, Tu viện Lộc Uyển, Cali, Hoa Kỳ.

Năm 2009, Ngài làm Trưởng Ban Kiến Đàn và Yết Ma A-xà-lê Đại giới đàn Giác Tánh do Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Bình Định tổ chức tại Tổ đình Long Khánh, thành phố Quy Nhơn.

4. VIÊN TỊCH:

Mặc dù tuổi già sức yếu, nhưng Ngài không từ nan bất cứ Phật sự nào, bất cứ sự cần cầu nào, như lời Ngài thường dạy đồ chúng: “nơi nào cần thì ta đến, hết việc thì ta lại đi, không thời gian, không biên giới.” Trong chuyến đi chứng minh cho lễ Khai giảng khóa đầu tiên của trường Trung cấp Phật học tại Gia Lai ngày 30/10/2012, Ngài bị tai biến nhẹ. Giáo hội, môn đồ pháp quyến cùng các y bác sĩ bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, bệnh viện Chợ Rẫy – TP HCM tận tình chữa trị, sau đó Ngài đã bình phục gần như hoàn toàn. Nhưng vì nhân duyên hóa độ đã mãn, trọng trách kế thừa Tổ nghiệp đã thành, huyễn thân tứ đại giả tạm như cỗ xe trải qua thời gian cũng đến thời tan rã, với linh cảm nhiệm mầu, Ngài đã trở về chốn Tổ đình Thiên Đức, xả bỏ báo thân, an nhiên thị tịch vào lúc 06 giờ rưỡi sáng, ngày 20 tháng 4 năm 2013 (nhằm 11/3/Quý Tỵ).

Trụ thế 83 năm, 55 Tăng lạp.

Suốt cuộc đời Ngài từ lúc xuất gia cho đến ngày viên tịch, Ngài đã không ngừng phụng sự Đạo pháp, hóa độ chúng sanh. Với trách nhiệm “Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”, kế thừa Tổ nghiệp, Ngài khơi đèn tuệ giác cho hàng ngàn môn đồ tứ chúng; trong hàng đệ tử xuất gia, nhiều vị đã tốt nghiệp từ Cử nhân cho đến Tiến sĩ Phật học, nhiều vị đã trụ trì, giữ nhiều trọng trách Phật sự trong và ngoài nước. Ngài cũng có công lớn trong việc khai sơn, tái thiết, trùng tu các ngôi chùa như: Hồng Từ, Đạo Quang, Pháp Hải, Hoa Nghiêm, Thiên Sanh, Thiên Bửu, Phước Điền…, đặc biệt là công trình đại trùng tu Tổ đình Thiên Đức. 

Với cuộc đời thanh tu, nếp sống giản dị chan hòa, với tâm lượng bao dung hỷ xả,với trí tuệ mẫn tiệp sâu sắc, với giới hạnh trang nghiêm thanh tịnh, Ngài xứng đáng là bậc Tòng Lâm Thạch Trụ, là bậc cao Tăng thạc đức trong chốn rừng thiền.Với tầm nhìn thấu triệt trước sau, với hạnh nguyện cao cả, thiêng liêng, với hùng tâm dũng lực, Ngài là nhà lãnh đạo sáng suốt, tài đức vẹn toàn, tự tại vô úy trước sự thăng trầm của cuộc đời. Tinh thần hy hiến, phụng sự của Ngài vẫn còn mãi mãi với Đạo pháp. Pháp âm của Ngài vẫn còn vang vọng, in đậm trong lòng Tứ chúng khắp nơi. 

Ngài ra đi, môn đồ pháp quyến mất đi một vị Thầy tôn kính, Phật Giáo Việt Nam mất một bậc cao Tăng làm chỗ dựa cho bao nhiêu Tăng Ni và Phật tử.

Dẫu biết rằng ‘vô thường thị thường’, ‘sanh như đắp chăn bông, tử như cởi áo hạ’, bậc xuất trần đại sĩ đến đi vô ngại như gió thoảng mây bay, như cánh nhạn tầng không chẳng để lại dấu vết, nhưng trước cảnh sanh ly tử biệt, môn đồ tứ chúng, chư tôn Thiền đức Tăng Ni khắp nơi, Thiện tín Phật tử xa gần làm sao tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn với bậc Tôn sư khả kính.

 

NAM MÔ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP NGŨ THẾ, SẮC TỨ THIÊN ĐỨC ĐƯỜNG THƯỢNG, HÚY Thượng QUẢNG Hạ PHƯỚC, Hiệu QUÁN HẠNH, Tự THIỆN NHƠN, TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG TÂN VIÊN TỊCH GIÁC LINH, THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.

 

Môn đồ Pháp quyến cung soạn

 

You are here Chùa Lá Chùa Lá Gò Vấp